Viêm amiđan

Các triệu chứng thường gặp ở họng

Tại họng tập trung nhiều các tổ chức lympho tạo thành từng đám gọi là amiđan. Các amiđan hình thành nên vòng bạch huyết Waldeyer bao gồm: amiđan vòm (V.A), amiđan vòi, amiđan khẩu cái (thường gọi là amiđan), amiđan lưỡi và hạch Gillet.

Các amiđan sản xuất ra những tế bào lympho T và B tham gia vào miễn dịch tế bào bảo vệ cơ thể, trong đó quan trọng nhất là amiđan vòm (V.A) và amiđan khẩu cái (amiđan).

Đám rối thần kinh họng (vận động, cảm giác, thực vật) là cơ chế gây ra các phản xạ thần kinh, nội tiết để gây ra các biến chứng toàn thân từ viêm họng.

Nguyên nhân gây bệnh

Viêm mũi họng là tình trạng niêm mạc mũi họng bị viêm nhiễm do tác nhân vi khuẩn, virus, nấm hoặc dị ứng.

Nguyên nhân gây bệnh thường là virus (chiếm 60-80%). Vi khuẩn: thường gặp là phế cầu, Hemophilus Influenzae, tụ cầu và nguy hiểm nhất là liên cầu ß tan huyết nhóm A. Nấm: rất hiếm, mặc dù bình thường khi nuôi cấy dịch họng kết quả chỉ ra có khoảng 70% các trường hợp có sự tồn tại của nấm. Trong những trường hợp cơ thể suy giảm sức đề kháng như hội chứng suy giảm miễn dịch, dùng quá nhiều kháng sinh, súc thuốc súc họng, sử dụng viên ngậm bừa bãi hoặc dùng các thuốc xịt họng không đúng chỉ định… nấm mới trở nên gây bệnh.

Người ta nhận thấy đa phần những bệnh nhân bị viêm họng tái diễn nhiều lần thường hay kèm thêm một số yếu tố thuận lợi như sự thay đổi của khí hậu, người tiếp xúc với các yếu tố vật lý hóa học độc hại, làm việc trong môi trường bụi bẩn…

Viêm amiđan cấp

Viêm V.A cấp là một bệnh hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Tỷ lệ trẻ bị viêm V.A chiếm một tỷ lệ cao từ 40 – 53% số trẻ đi khám bệnh tùy theo từng mùa, địa dư sinh sống, điều kiện sống và sinh hoạt.

Biểu hiện của viêm amiđan cũng dễ nhận biết.

– Cha mẹ thường thấy con mình “thở” to hơn bình thường khi ngủ, kèm theo là chảy nước mũi, hơi thở hôi. Sau hai ba ngày trẻ bắt đầu sốt. Nhiệt độ dao động từ 38-40˚C. Trẻ mệt mỏi, quấy khóc, kém ăn, ăn hay nôn trớ. Cửa mũi có dịch chảy ra, lúc đầu dịch trong, nếu trẻ không được điều trị dịch sẽ chuyển dần thành màu vàng xanh. Ngạt mũi làm trẻ phải thở bằng miệng. Nếu còn bú mẹ sẽ thấy trẻ không bú được dài hơi, bú được một lúc lại phải dừng lại để thở. Trẻ bị ho, có thể có đờm do dịch xuất tiết từ mũi họng kích thích.

Viêm amiđan mạn tính

  • Viêm amiđan mạn tính hình thành do viêm V.A cấp không được điều trị đúng.
  • Viêm amiđan mạn tính thường xuất hiện ở trẻ dưới 6 tuổi với các biểu hiện:
  • Ngạt mũi thường xuyên, ngày càng tăng.
  • Chảy dịch ra cửa mũi trước.
  • Trẻ hay ho và sốt vặt, do mũi chảy xuống họng và mủ đọng ở hốc mũi.
  • Trẻ biểu hiện ngủ không yên giấc, ngáy to, giật mình.
  • Tai nghễnh ngãng và cũng dễ bị viêm.

Viêm amiđan

Viêm amiđan là nhóm bệnh hay gặp, đứng hàng đầu trong những bệnh lý về họng. Bệnh tiến triển có thể cấp tính hay mạn tính. Viêm amiđan rất hay tái phát và có thể gây các biến chứng nguy hiểm.

Viêm amiđan cấp

Viêm amiđan cấp là viêm nhiễm của amiđan khẩu cái do virus hoặc vi khuẩn.

– Bệnh hay gặp ở trẻ lớn, trên 7 tuổi và người lớn. Tỷ lệ bị bệnh khoảng 10% dân số.

– Viêm amiđan cấp thường gặp do bệnh nhiễm trùng còn phổ biến ở nước ta.

– Viêm amiđan cấp không khó phát hiện, nhiều khi bản thân người bệnh tự phát hiện.

– Bệnh nhân bị bệnh thấy người mệt mỏi, kém ăn, cảm giác ớn lạnh. Sốt 39º-40˚C.

Viêm amiđan mạn tính

– Bệnh nhân có nhiều đợt viêm cấp trong năm (trên 5 lần).

– Viêm amiđan mạn tính xuất hiện nếu viêm cấp không được điều trị đúng, kháng sinh không đủ liều, không đúng cách.

– Bệnh nhân hay ho húng hắng, hay đau rát họng, nuốt vướng như có dị vật, đau nhói lên tai khi nuốt, hơi thở hôi, ngủ ngáy, đôi khi giọng nói bị thay đổi.

– Khám thấy amiđan quá phát hoặc xơ teo, trên bề mặt amiđan có những chấm mủ như bã đậu. Vuốt dọc theo trụ trước của amiđan thấy có mủ trắng từ các hốc amiđan.

– Hạch góc hàm to, cứng, có khi đau.

Biến chứng của viêm amiđan và V.A

– Biến chứng tại chỗ: viêm tấy hoặc áp xe quanh amiđan.

– Biến chứng bộ phận hô hấp: viêm thanh quản, khí quản và phế quản

– Cơn khó thở đột ngột và kịch liệt về đêm, nhất là ở những trẻ có cân nặng trên mức bình thường, tổ chức lympho thường quá phát – nguy cơ co thắt nguy hiểm.

– Trên những trẻ có cơ địa bị hen, viêm V.A làm cho những cơn hen xuất hiện thường xuyên hơn và nặng hơn.

– Biến chứng viêm tai giữa cấp, mạn.

– Viêm amiđan, V.A mạn tính hay gây rối loạn tiêu hoá ở trẻ nhỏ.

– Viêm hạch: thường là viêm hạch trên nhiều vùng ở cổ, hạch nhỏ, không đau, di động dễ. Những hạch này có thể bị nhiễm trùng, đặc biệt là hạch Gillete gây áp xe thành sau họng ở trẻ dưới 2 tuổi.

– Biến chứng mắt: viêm màng tiếp hợp, viêm mí mắt, chảy nước mắt.